NGHI THỨC CƯỚI HỎI VÀ LỄ VẬT MÂM QUẢ THEO PHONG TỤC 3 MIỀN - P.2


PHẦN 2: Phong Tục Đám Cưới Huế & S Lưng Mâm Quả Trong Cưới - Hỏi Của Miền Trung.

1) Phong Tục Đám Cưới Huế:

Quy trình tổ chức lễ cưới ở Huế cũng có đủ các bước thủ tục như các địa phương khác, từ lễ Chạm ngõ (Dạm ngõ), Hỏi Cưới, đến Tân Hôn, Vu Quy… Nhìn tổng thể, các đám cưới ở Huế thường diễn ra tiết kiệm, giản đơn, không phô trương, nhưng ở mỗi phần cụ thể khá cầu kỳ, với quan niệm “trọng lễ nghi khi (khinh) tài vật”.


 Chuẩn bị lễ hỏi, lễ cưới, người Huế thường xem ngày giờ tốt xấu, có khi lên chùa thỉnh ý các cao tăng. Sau khi chọn ngày giờ, hai bên thông gia sẽ báo cho nhau bằng một cuộc thăm hỏi đơn giản. Việc này cũng đôi khi do đôi bạn trẻ thực hiện, nhưng phải là hai nhà có thân tình từ trước.


 Ðối với đám hỏi, người Huế chỉ xem là buổi gặp mặt giữa hai gia đình và tông tộc thân thích để giới thiệu đôi bạn trẻ, không tổ chức rầm rộ.



Cuộc trò chuyện thân mật giữa hai bên gia đình ngày đám Hỏi


 Ðám cưới Huế có các lễ: Xin giờ, Nghinh hôn, Bái tơ hồng, rước dâu diễn ra ở nhà gái, và đón dâu, trình báo gia tiên ở nhà trai. Người Huế không có tục thách cưới, lễ vật trong lễ cưới tối thiểu chỉ gồm có mâm trầu cau, rượu trà, nến tơ hồng, bánh phu thê. Nếu khá giả, nhà trai có thể thêm bánh kem, bánh dẻo; không có “lợn quay đi lộng” như nhiều nơi.

Ngoài ra, đám cưới ở Huế luôn có phù dâu, phù rể và hai đứa trẻ rước đèn đi trước. Hai đứa trẻ thường là 1 trai 1 gái, tuổi tương đương cầm lồng đèn hay cầm hoa.


 

Hình ảnh đám cưới theo phong tục Huế


Trong đêm tân hôn, đôi bạn trẻ phải làm lễ giao bôi hợp cẩn. Người Huế có tập tục để trong phòng hoa chúc một khay lễ với 12 miếng trầu, đĩa muối, gừng và rượu giao bôi. Ðôi bạn trẻ phài nhai hết 12 miếng trầu ấy, tượng trưng cho 12 tháng hòa hợp trong một năm, 12 năm hòa hợp tuần hoàn trong một giáp âm lịch. Việc ăn muối ăn gừng mang màu sắc dân gian, biểu tượng nghĩa tình nồng thắm. Còn rượu giao bôi thì theo đúng với lễ giáo phong kiến của Trung Hoa cũ.


Đôi bạn trẻ uống rượu giao bôi


Khi đưa dâu, thông thường bố mẹ cô gái sẽ không theo xe, mà hôm sau mới sang nhà trai, với ý nghĩa xem cô con gái ngày đầu về làm dâu có làm điều gì phật lòng nhà chồng. Buổi gặp này, hai bên thông gia đối đáp những câu khách sáo, nhắn gửi con cái cho nhau, và căn dặn con mình phải thuận thảo với gia đình bên vợ hoặc bên chồng. Hiện nay, lễ này đã được nhiều gia đình Huế giảm bớt, bằng cách khi rước dâu, bố cô gái theo về nhà trai bằng một chiếc xe khác xe hoa, và tại tiệc đãi sẽ trao đổi với nhà trai. Ba ngày sau lễ cưới, cô dâu mới được trả lại nhà bố mẹ để thu dọn tư trang về nhà chồng, bắt đầu cuộc sống làm dâu.


Tính cầu kỳ của người Huế tại lễ cưới chủ yếu trong cách hành xử. Không hề có chuyện ầm ĩ ồn ào thái quá trong các lễ và tiệc cưới. Trao đổi ngôn từ giữa hai bên thông gia, giữa bà con thân thuộc đều rất thận trọng. Việc thưa gửi, trình bày của chủ hôn, bố mẹ hai bên đều rất khuôn sáo và không bỏ sót ai.


Ðặc biệt, quan hệ tuổi mạng rất được coi trọng ở đám cưới Huế. Vị chủ hôn thường là vị cao niên trong dòng tộc hai bên, thân thuộc với gia đình, vợ con đầy đủ, không tật bệnh, tuổi không khắc kỵ đôi tân hôn. Các phù dâu phù rể là người chưa có chồng vợ, tính tình vui vẻ nhanh nhẹn. Một số nhân vật khác cũng được lực chọn tùy phần nghi lễ phù hợp.


Ðơn cử trước ngày cưới đôi tân hôn có thể đưa nhau đi may áo cưới (nếu gia đình khá giả), thì ngày giờ đi may phải tốt, chủ tiệm may là người còn cả vợ chồng, nhiều con cái, gia đình hòa thuận.


Việc bài trí phòng tân hôn phải do một người phụ nữ lớn tuổi, phúc hậu sửa soạn. Lễ vật rước dâu, nhà trai nhờ một người cao tuổi, đủ vợ chồng con cái, gia đình hòa thuận kiểm tra. Người này cũng sẽ têm trầu cau, bày cặp nến hồng trên bàn thờ gia tiên nhà gái. Sau khi lễ xong, cặp nến hồng cũng phải được người này thổi tắt.


Số người nhà trai đi rước dâu luôn ở số chẵn. Trước khi đi và khi đón dâu về, nhà trai thường cử vài người đàn ông trẻ tuổi hoạt bát, đã có vợ con ra đứng đón sẵn để “lấy hên” cho đôi tân hôn.


2) Mâm Quả:

Số lượng mâm quả cưới của miền Trung cũng không cần quá cầu kỳ, chủ yếu là đầy đủ những lễ vật quan trọng nhất, còn lại thì tùy vào điều kiện kinh tế để chuẩn bị. Điển hình sẽ thường là 05 mâm hoặc 06 mâm.


05 Mâm bao gồm: Mâm trầu cau, Mâm Trà, rượu và nến, Mâm Bánh phu thê, Mâm Xôi gấc + gà luộc, Mâm Trái cây.

06 Mâm bao gồm: Mâm trầu cau, Mâm Trà, rượu và nến, Mâm Bánh phu thê, Mâm Xôi gấc + gà luộc, Mâm Trái cây, MâNem chả (hoặc Trà).


Có 4 lễ vật bắt buộc phải chuẩn bị đó là: trầu cau, bánh phu thê, chè (trà) rượu và nến tơ hồng. Số lượng trong mâm trầu cau sẽ là 105 quả cau với ý nghĩa chúc trăm năm hạnh phúc. Bánh phu thê tượng trưng cho tình nghĩa vợ chồng hòa thuận êm ấm. Chè rượu tỏ lòng thành của con cháu dâng lên tổ tiên. Và cặp nến tơ hồng sẽ do một người cao tuổi có gia đình hạnh phúc thổi tắt sau khi lễ xong để lấy may cho đôi trẻ cũng có cuộc sống hôn nhân như vậy.



Mâm qủa đơn giản, không cầu kỳ nhưng phải đủ những lễ vật cơ bản.


Và với một số nơi như Đà Nẵng, quan niệm tổng số người rước dâu bưng mâm quả phải ứng với số sinh hoặc lão. Trong đó 1, 2, 3, 4, 5, 6… tương ứng với sinh, lão, bệnh, tử, sinh, lão… Và số ứng với sinh hoặc lão sẽ là đẹp nhất.



Dàn bưng quả theo số "Sinh"