NGHI THỨC CƯỚI HỎI VÀ LỄ VẬT MÂM QUẢ THEO PHONG TỤC 3 MIỀN - P.1

Hôn Lễ là một Lễ trọng có quy định chặt chẽ của dân tộc Việt Nam từ trước tới nay, không có gì thay đổi trên nền tảng cơ bản. Ngày nay, cả 3 miền Bắc Trung Nam vẫn còn lưu truyền, mỗi nơi có một nét đặc trưng riêng biệt. Có thể xem là những bài học kinh điển trong các nghi thức Cưới Hỏi.

Mâm quả cưới cho từng vùng miền sẽ có những cách chuẩn bị khác nhau tùy theo phong tục của từng nơi. Một mâm quả cưới đẹp sẽ mang những ý nghĩa đẹp mà bên nhà trai chuẩn bị để trao tay cho nhà gái với mong muốn được rước dâu và thể hiện lòng kính trọng của nhà trai đối với công ơn dưỡng dục của cha mẹ cô dâu.

Bài viết dưới đây sẽ tổng hợp đầy đủ các nghi thức trong lễ Cưới - Hỏi và cách bài trí cũng như số lượng của từng lễ vật cho một Mâm Quả theo đúng cách thức với từng vùng, miền!

PHẦN 1: Phong Tục Đám Cưới Hà Nội & S Lưng Mâm Quả Trong Cưới - Hỏi Của Miền Bắc.


1) Phong Tục Đám Cưới Hà Nội:

Nghi thức, nghi lễ cưới ở Hà Nội so với các vùng khác có quy định nghiêm ngặt hơn, nhưng trải qua một thời gian nghi thức đó cũng đã thay đổi theo tiến bộ của xã hội. Tuy nhiên, dù có thay đổi gì cũng phải giữ 3 lễ:


Chạm ngõ (Dạm Ngõ) là lễ tiếp xúc đầu tiên, chính thức của hai gia đình nhà trai và nhà gái. Ngày nay, những gia đình ở Hà Nội vẫn giữ nguyên nếp xưa, lễ chạm ngõ vẫn được xem là thủ tục cần thiết, để giữa hai gia đình, "chỗ người lớn" thưa chuyện với nhau. Sau lễ chạm ngõ, người con gái được xem như có nơi có chốn, bước đầu để tiến tới chuyện hôn nhân.


 

Một mâm quả nhỏ cho ngày gặp đầu tiên của hai bên gia đình

– Sau Lễ chạm ngõ là đến Lễ ăn hỏi. Dù là tầng lớp nào thì cũng không thể thiếu được cơi trầu. Một lễ ăn hỏi của người Hà Nội thì không thể thiếu cốm và hồng. Nếu gia đình khá giả thì ngoài cốm – hồng và trầu cau còn có thêm lợn sữa quay. Thông thường số lượng mâm quả ở miền Bắc luôn là số lẻ, có thể từ 3,5,7,9 hoặc đến 11 mâm. Tuy nhiên số lễ vật trong mâm quả lại được chuẩn bị với số chẵn và đi theo cặp, với ý nghĩa vợ chồng đồng lòng có nhau.

Dù lễ vật nhiều, ít nhưng không thể thiếu bánh “su sê”, ngày xưa gọi là bánh “phu thê”, một số địa phương gọi chệch ra là bánh “su sê” là biểu tượng của đôi vợ chồng duyên phận vẹn toàn.


Mâm bánh Phu Thê

 Thời gian sau khi ăn hỏi đến lễ cưới thông thường là dưới 10 ngày. Ăn uống, tiệc tùng diễn ra trước ngày cưới 1 ngày (bây giờ thường tổ chức ngày trong ngày cưới). Trong khi đón dâu, cô dâu chú rể phải làm lễ gia tiên, lễ này như một sự tưởng nhớ đến cội nguồn, tổ tiên.

Sau lễ thành hôn, hai vợ chồng tân hôn trở về nhà gái mang theo lễ vật để tạ gia tiên gọi là lễ lại mặt. Lễ này hiện nay một số đám cưới bỏ qua, từ sau lễ lại mặt bố mẹ cô dâu mới chính thức tới nhà thông gia, vì trong lễ cưới mẹ cô dâu không đi đưa dâu. Lễ lại mặt thường tiến hành vào ngày thứ hai hoặc thứ tư sau lễ cưới (gọi là nhị hỷ hoặc tứ hỷ).


 Lễ Lại Mặt - Đôi vợ chồng trẻ về nhà gái tạ Gia Tiên


2) Mâm Quả:

Tuỳ vào điều kiện kinh tế của từng cặp đôi mà số lượng Mâm Qủa sẽ ít hay nhiều. Sau đây là cách làm mâm quả cưới cho từng số lượng Qủa ở miền Bắc:

– 03 Mâm bao gồm: mâm trầu cau (là lễ vật bắt buộc phải có), mâm chè (trà), mâm hạt sen.

– 05 Mâm bao gồm: mâm trầu cau, mâm chè (trà), mâm hạt sen, mâm rượu, mâm bánh cốm.

– 07 Mâm bao gồm: mâm trầu cau, mâm chè (trà), mâm bánh cốm, mâm rượu, mâm hạt sen, mâm bánh phu thê, mâm bánh đậu xanh.

– 09 Mâm bao gồm: mâm trầu cau, mâm chè (trà)mâm bánh cốm, mâm rượu, mâm hạt sen, mâm bánh phu thê, mâm bánh đậu xanh, mâm hoa quả kết rồng phụng (hoặc trái cây), mâm lợn sữa quay.

– 11 Mâm là quá nhiều nên cũng rất ít nhà lựa chọn, nếu có thì nó sẽ bao gồm 9 tráp như trên và bổ sung thêm mâm bánh nướng bánh dẻo, mâm xôi gấc trang trí đậu xanh hoặc tiền dẫn cưới,


07 Mâm quả cho ngày Hỏi - Cưới


09 Mâm quả cho ngày Hỏi - Cưới